Tiếng Anh: on the bank, ashore, on the coast
Nhớ mặt chữ, nét viết, lượng từ, mẹo Foxi
Giải mã cấu trúc từng chữ đơn cấu thành từ “岸上”
Chữ NGẠN (岸) là chữ hình thanh kiêm hội ý, có bộ Sơn (山) trên đỉnh, vách đứng (厂) và chữ Can (干 - khô ráo). Bờ sông nhô cao khô ráo giúp con thuyền thoát khỏi sóng gió bão bùng để cập bến an toàn. Nhà Phật có câu "Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn".
Núi che chắn vách đất cao Bờ sông phẳng lặng thuyền vào bình yên. Trên SƠN (山) HÁN (厂) CAN (干) vững vàng, Chữ NGẠN (岸) bến đỗ xóm làng bình yên.
Xem thứ tự từng nét chuẩn theo quy tắc bút thuận và tự tay luyện viết
💡 岸上 (NGẠN THƯỢNG) = 岸 (NGẠN: bờ (sông, biển, hồ)) + 上 (THƯỢNG: trên, lên) → trên bờ, phía trên bờ. 🦊
Bé Cáo mách nhỏ: Chữ này mang Thanh 4 — hãy hạ giọng dứt khoát từ cao xuống thấp (như tiếng dứt khoát "À!") nhé! 🦊⚡

trên bờ, phía trên bờ
Phồn thể: 岸上
Hán Việt: NGẠN THƯỢNG
Tiếng Anh: on the bank, ashore, on the coast
Giải mã cấu trúc từng chữ đơn cấu thành từ “岸上”
Chữ NGẠN (岸) là chữ hình thanh kiêm hội ý, có bộ Sơn (山) trên đỉnh, vách đứng (厂) và chữ Can (干 - khô ráo). Bờ sông nhô cao khô ráo giúp con thuyền thoát khỏi sóng gió bão bùng để cập bến an toàn. Nhà Phật có câu "Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn".
Núi che chắn vách đất cao Bờ sông phẳng lặng thuyền vào bình yên. Trên SƠN (山) HÁN (厂) CAN (干) vững vàng, Chữ NGẠN (岸) bến đỗ xóm làng bình yên.
Tập viết
Dùng trong câu
当万米载人深潜器凯旋靠泊时,岸上等候多时的科研人员爆发出热烈欢呼与掌声。
Khi tàu lặn có người lái vạn mét thắng lợi cập bến, các cán bộ nghiên cứu khoa học chờ đợi đã lâu ở phía trên bờ trên bờ đã bùng nổ những tràng pháo tay reo hò nhiệt liệt.

Câu 1/1
Trích dẫn danh ngôn, thơ Đường, từ Tống, tiểu thuyết Minh – Thanh và văn học kinh điển có chữ 岸上
Tình bạn tri kỷ sâu nặng hơn cả đầm nước nghìn thước.
Âm Hán Việt: LÝ BẠCH THỪA CHU TƯƠNG DỤC HÀNH, HỐT VĂN NGẠN THƯỢNG ĐẠP CA THANH. ĐÀO HOA ĐÀM THỦY THÂM THIÊN XÍCH, BẤT CẬP UÔNG LUÂN TỐNG NGÃ TÌNH.
“Lý Bạch lên thuyền sắp sửa đi, chợt nghe trên bờ tiếng giậm chân hát tiễn. Nước đầm Đào Hoa sâu ngàn thước, chẳng bằng tình Uông Luân tiễn ta.”
Tâm trạng hân hoan nhẹ nhõm trên hành trình vượt vạn trùng núi sông.
Âm Hán Việt: TRIỀU TỪ BẠCH ĐẾ THÁI VÂN GIAN, THIÊN LÝ GIANG LĂNG NHẤT NHẬT HOÀN. LƯỠNG NGẠN VIÊN THANH ĐỀ BẤT TRỤ, KHINH CHU DĨ QUÁ VẠN TRÙNG SƠN.
“Sáng từ giã thành Bạch Đế giữa ráng mây hồng, ngàn dặm Giang Lăng một ngày đã tới. Đôi bờ tiếng vượn kêu không dứt, thuyền nhẹ đã vượt qua muôn trùng núi non.”
Ánh trăng sáng trong đêm vắng và nỗi nhớ quê hương da diết.
Âm Hán Việt: SÀNG TIỀN MINH NGUYỆT QUANG, NGHI THỊ ĐỊA THƯỢNG SƯƠNG. CỬ ĐẦU VỌNG MINH NGUYỆT, ĐÊ ĐẦU TƯ CỐ HƯƠNG.
“Đầu giường ánh trăng sáng chiếu, ngỡ là sương phủ trên mặt đất. Ngẩng đầu ngắm trăng sáng, cúi đầu nhớ cố hương.”
Yêu mến cảnh sắc rừng phong chiều thu đỏ rực hơn cả hoa tháng hai.
Âm Hán Việt: VIỄN THƯỢNG HÀN SƠN THẠCH ĐƯỜNG TÀ, BẠCH VÂN SINH XỨ HỮU NHÂN GIA. ĐÌNH XA TỌA ÁI PHONG LÂM VÃN, SƯƠNG DIỆP HỒNG Ư NHỊ NGUYỆT HOA.
“Đường đá nghiêng nghiêng lên núi lạnh xa xăm, nơi mây trắng sinh ra có mấy nếp nhà. Dừng xe vì yêu cảnh rừng phong buổi chiều tà, lá nhuộm sương thu còn đỏ thắm hơn hoa tháng hai.”
Từ “岸上” hay gặp đến mức nào
Hay gặp khi nói, trong đề thi và trên báo.
Đối chiếu nghĩa cổ, cấu tạo chữ và trích dẫn văn chương của chữ 岸 (U+5CB8) trực tiếp trên FoxHSK
Công cụ tra cứu tổng hợp mã Unicode, bộ thủ, dị thể và đối chiếu ngữ cảnh đọc trên hệ thống VNPF.
núi ngàn
Giải nghĩa theo mã cấu trúc chữ (#A1, #C1, #E2...) kèm trích dẫn thơ văn cổ Hán - Nôm (Truyện Kiều, Thiên Nam Ngữ Lục, Chinh Phụ Ngâm...).
bờ (sông, biển, hồ). Chữ NGẠN (岸) là chữ hình thanh kiêm hội ý, có bộ Sơn (山) trên đỉnh, vách đứng (厂) và chữ Can (干 - khô ráo). Bờ sông nhô cao khô ráo giúp con thuyền thoát khỏi sóng gió bão bùng để cập bến an toàn. Nhà Phật có câu "Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn". Các cấu trúc từ ghép Hán - Nôm tiêu biểu: 彼岸 BỈ NGẠN (Bến bờ giác ngộ bên kia); 岸邊 NGẠN BIÊN (Ven bờ bến nước); 回頭是岸 HỒI ĐẦU THỊ NGẠN (Quay đầu là bờ, biết hối cải ắt có lối thoát).
Giải thích ngữ cảnh âm đọc Hán Việt và chữ Nôm thông dụng trong văn học và đời sống.
tả ngạn, hữu ngạn (bờ phải, bờ trái)
Từ điển tiếng Việt cổ thế kỷ 15 khảo cứu qua Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi.
Mục từ 岸 (NGẠN): bờ (sông, biển, hồ). Sử dụng trong hệ thống từ vựng Hán Việt và quốc âm cổ truyền (彼岸 BỈ NGẠN (Bến bờ giác ngộ bên kia); 岸邊 NGẠN BIÊN (Ven bờ bến nước); 回頭是岸 HỒI ĐẦU THỊ NGẠN (Quay đầu là bờ, biết hối cải ắt có lối thoát)).
Từ điển Nam Việt - Dương Hiệp Tự Vị (Việt - La-tinh) cổ điển xuất bản năm 1838.
Ngạn (岸): bờ (sông, biển, hồ).
Từ điển phân loại Hán - Việt cổ theo 32 môn loại đời sống thời Nguyễn.
Chữ 岸 (âm đọc NGẠN): bờ (sông, biển, hồ). Từ vựng thường đàm: 彼岸 BỈ NGẠN (Bến bờ giác ngộ bên kia); 岸邊 NGẠN BIÊN (Ven bờ bến nước); 回頭是岸 HỒI ĐẦU THỊ NGẠN (Quay đầu là bờ, biết hối cải ắt có lối thoát).
Đối chiếu âm đọc và ngữ nghĩa chữ Nôm Tày trong kho tàng di sản văn tự dân tộc.
Đối chiếu văn tự Hán - Nôm Tày của chữ 岸 (âm chuẩn NGẠN): bờ (sông, biển, hồ).
Danh mục chuẩn hóa âm đọc và ngữ cảnh từ ghép chữ Nôm phổ biến.
con ngan (vịt xiêm)
Công trình ngữ liệu chữ Nôm học thuật biên soạn tại Đại học Tokyo (1988).
Ngữ liệu học thuật chữ 岸 [U+5CB8 · NGẠN · ànshang]: bờ (sông, biển, hồ).
Các chủ đề liên quan và nhóm từ cùng trường nghĩa với “岸上”