Tiếng Anh: four
Nhớ mặt chữ, nét viết, lượng từ, mẹo Foxi
Giải mã cấu trúc từng chữ đơn cấu thành từ “四”
Chữ TỨ (四) ban đầu trong Giáp cốt văn là chữ chỉ sự gồm bốn vạch ngang xếp chồng lên nhau biểu thị số bốn. Đến thời Kim văn và Tiểu triện, chữ mượn hình cái miệng thở hơi phân tán ra bốn phía, gồm khung bao quanh thuộc bộ VI (囗) và nét phân tách bên trong thuộc bộ NHI (儿). Trong văn hóa Á Đông, số bốn gắn liền với sự vuông vắn, cân đối của đất trời như TỨ PHƯƠNG (四方) và TỨ QUÝ (四季).
Khung vuông bộ VI (囗) đất trời, Bên trong chữ NHI (儿) chia đôi nhịp nhàng. Chữ TỨ (四) bốn hướng thênh thang, Bốn mùa xuân hạ thu đông tuần hoàn.
Xem thứ tự từng nét chuẩn theo quy tắc bút thuận và tự tay luyện viết
💡 Mẹo ghi nhớ dân gian (FoxHSK biên soạn): Chữ 四 có âm Hán Việt là TỨ (số bốn). Khung vây bên ngoài bao bọc hai nét phân tách rẽ sang hai bên, tượng trưng cho bốn phương trời đất: Đông, Tây, Nam, Bắc! 🦊✨
Bé Cáo mách nhỏ: Chữ này mang Thanh 4 — hãy hạ giọng dứt khoát từ cao xuống thấp (như tiếng dứt khoát "À!") nhé! 🦊⚡

bốn
Phồn thể: 四
Hán Việt: TỨ
Tiếng Anh: four
Giải mã cấu trúc từng chữ đơn cấu thành từ “四”
Chữ TỨ (四) ban đầu trong Giáp cốt văn là chữ chỉ sự gồm bốn vạch ngang xếp chồng lên nhau biểu thị số bốn. Đến thời Kim văn và Tiểu triện, chữ mượn hình cái miệng thở hơi phân tán ra bốn phía, gồm khung bao quanh thuộc bộ VI (囗) và nét phân tách bên trong thuộc bộ NHI (儿). Trong văn hóa Á Đông, số bốn gắn liền với sự vuông vắn, cân đối của đất trời như TỨ PHƯƠNG (四方) và TỨ QUÝ (四季).
Khung vuông bộ VI (囗) đất trời, Bên trong chữ NHI (儿) chia đôi nhịp nhàng. Chữ TỨ (四) bốn hướng thênh thang, Bốn mùa xuân hạ thu đông tuần hoàn.
Tập viết
Dùng trong câu
我有四个苹果。
Tôi có bốn quả táo.

Câu 1/3
Trích dẫn danh ngôn, thơ Đường, từ Tống, tiểu thuyết Minh – Thanh và văn học kinh điển có chữ 四
Ánh trăng sáng trong đêm vắng và nỗi nhớ quê hương da diết.
Âm Hán Việt: SÀNG TIỀN MINH NGUYỆT QUANG, NGHI THỊ ĐỊA THƯỢNG SƯƠNG. CỬ ĐẦU VỌNG MINH NGUYỆT, ĐÊ ĐẦU TƯ CỐ HƯƠNG.
“Đầu giường ánh trăng sáng chiếu, ngỡ là sương phủ trên mặt đất. Ngẩng đầu ngắm trăng sáng, cúi đầu nhớ cố hương.”
Lời chúc Trung Thu bất hủ: Mong người bền lâu, ngàn dặm cùng ngắm chung vầng trăng sáng.
Âm Hán Việt: NHÂN HỮU BI HOAN LY HỢP, NGUYỆT HỮU ÂM TÌNH VIÊN KHUYẾT, THỬ SỰ CỔ NAN TOÀN. ĐÃN NGUYỆN NHÂN TRƯỜNG CỬU, THIÊN LÝ CỘNG THUYỀN QUYÊN.
“Đời người có buồn vui tan hợp, vầng trăng có lúc tỏ lúc mờ lúc tròn lúc khuyết, việc ấy xưa nay vốn khó vẹn toàn. Chỉ mong người mãi bền lâu, cách xa ngàn dặm vẫn cùng chung ánh trăng đẹp.”
Triết lý bất hủ về niềm hy vọng và sự dấn thân mở đường: Nhiều người đi ắt thành đường.
“Hy vọng vốn không thể bảo là có, cũng chẳng thể bảo là không. Nó giống hệt những con đường trên mặt đất; kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi.”
Từ “四” hay gặp đến mức nào
Hay gặp khi nói, trong đề thi và trên báo.
Đối chiếu nghĩa cổ, cấu tạo chữ và trích dẫn văn chương của chữ 四 (U+56DB) trực tiếp trên FoxHSK
Công cụ tra cứu tổng hợp mã Unicode, bộ thủ, dị thể và đối chiếu ngữ cảnh đọc trên hệ thống VNPF.
bốn. [Chữ Hán/Nôm chuẩn: 四 · 囗 (Bộ VI) (5 nét) · Pinyin: sì].
Giải nghĩa theo mã cấu trúc chữ (#A1, #C1, #E2...) kèm trích dẫn thơ văn cổ Hán - Nôm (Truyện Kiều, Thiên Nam Ngữ Lục, Chinh Phụ Ngâm...).
bốn. Chữ TỨ (四) ban đầu trong Giáp cốt văn là chữ chỉ sự gồm bốn vạch ngang xếp chồng lên nhau biểu thị số bốn. Đến thời Kim văn và Tiểu triện, chữ mượn hình cái miệng thở hơi phân tán ra bốn phía, gồm khung bao quanh thuộc bộ VI (囗) và nét phân tách bên trong thuộc bộ NHI (儿). Trong văn hóa Á Đông, số bốn gắn liền với sự vuông vắn, cân đối của đất trời như TỨ PHƯƠNG (四方) và TỨ QUÝ (四季). Các cấu trúc từ ghép Hán - Nôm tiêu biểu: 丟三落四 ĐÂU TAM LẠC TỨ (hay quên, đãng trí, nhớ trước quên sau); 四肢 TỨ CHI (tứ chi, bốn chi (tay chân)); 四民 TỨ DÂN (Tứ dân); 四方 TỨ PHƯƠNG (Phương); 四季 TỨ QUÝ (Tứ quý).
Giải thích ngữ cảnh âm đọc Hán Việt và chữ Nôm thông dụng trong văn học và đời sống.
Âm đọc TỨ: bốn; thường gặp trong ngữ cảnh: 丟三落四 ĐÂU TAM LẠC TỨ (hay quên, đãng trí, nhớ trước quên sau); 四肢 TỨ CHI (tứ chi, bốn chi (tay chân)); 四民 TỨ DÂN (Tứ dân); 四方 TỨ PHƯƠNG (Phương); 四季 TỨ QUÝ (Tứ quý).
Từ điển tiếng Việt cổ thế kỷ 15 khảo cứu qua Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi.
Mục từ 四 (TỨ): bốn. Sử dụng trong hệ thống từ vựng Hán Việt và quốc âm cổ truyền (丟三落四 ĐÂU TAM LẠC TỨ (hay quên, đãng trí, nhớ trước quên sau); 四肢 TỨ CHI (tứ chi, bốn chi (tay chân)); 四民 TỨ DÂN (Tứ dân); 四方 TỨ PHƯƠNG (Phương); 四季 TỨ QUÝ (Tứ quý)).
Từ điển Nam Việt - Dương Hiệp Tự Vị (Việt - La-tinh) cổ điển xuất bản năm 1838.
Tứ (四): bốn.
Từ điển phân loại Hán - Việt cổ theo 32 môn loại đời sống thời Nguyễn.
Chữ 四 (âm đọc TỨ): bốn. Từ vựng thường đàm: 丟三落四 ĐÂU TAM LẠC TỨ (hay quên, đãng trí, nhớ trước quên sau); 四肢 TỨ CHI (tứ chi, bốn chi (tay chân)); 四民 TỨ DÂN (Tứ dân); 四方 TỨ PHƯƠNG (Phương); 四季 TỨ QUÝ (Tứ quý).
Đối chiếu âm đọc và ngữ nghĩa chữ Nôm Tày trong kho tàng di sản văn tự dân tộc.
Đối chiếu văn tự Hán - Nôm Tày của chữ 四 (âm chuẩn TỨ): bốn.
Danh mục chuẩn hóa âm đọc và ngữ cảnh từ ghép chữ Nôm phổ biến.
Chuẩn hóa âm đọc TỨ (四): bốn; từ ghép thông dụng: 丟三落四 ĐÂU TAM LẠC TỨ (hay quên, đãng trí, nhớ trước quên sau); 四肢 TỨ CHI (tứ chi, bốn chi (tay chân)); 四民 TỨ DÂN (Tứ dân); 四方 TỨ PHƯƠNG (Phương); 四季 TỨ QUÝ (Tứ quý).
Công trình ngữ liệu chữ Nôm học thuật biên soạn tại Đại học Tokyo (1988).
Ngữ liệu học thuật chữ 四 [U+56DB · TỨ · sì]: bốn.
Các chủ đề liên quan và nhóm từ cùng trường nghĩa với “四”