Chuyển đến nội dung chính

古学精华

Cổ học tinh hoa

243 điển tích từ Bách gia chư tử, có chữ Hán, Pinyin, Hán Việt và lời bàn.

243 điển tíchSong ngữĐã lưu0
Hiển thị 243 / 243 điển tích
Trang 1 / 21
《孔子家语》

Không Quên Cái Cũ

BẤT VONG CỐ CỰUCherishing the Old and Cherished
不忘故旧(Bù wàng gù jiù)

孔子出游于野,见妇人哭于沼畔,甚悲。孔子下车问之:“何为而悲?”妇人曰:“昔者吾采稆于此,遗吾耆簪,求之不得,故悲。”孔子曰:“簪者,贱物也,何至若是?”妇人曰:“非为簪之美也,念古人之所以赠吾也,故不能忘。”孔子谓门人曰:“见微而知著,斯人不忘故旧矣。”

Âm Hán Việt:

Khổng Tử xuất du ư dã, kiến phụ nhân khốc ư chiểu phán, thậm bi. Khổng Tử hạ xa vấn chi: "Hà vi nhi bi?" Phụ nhân viết: "Tích giả ngô thải lữ ư thử, di ngô kỳ trâm, cầu chi bất đắc, cố bi." Khổng Tử viết: "Trâm giả, tiện vật dã, hà chí nhược thị?" Phụ nhân viết: "Phi vi trâm chi mỹ dã, niệm cổ nhân chi sở dĩ tặng ngô dã, cố bất năng vong." Khổng Tử vị môn nhân viết: "Kiến vi nhi tri trước, tư nhân bất vong cố cựu hĩ."

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Đức Khổng Tử ra chơi ngoài đồng, thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ non ở chỗ bờ đầm. Đức Khổng Tử lấy làm lạ, bảo học trò hỏi vì cớ gì mà khóc. Người đàn bà nói: "Độ trước tôi cắt cỏ thi, tôi đánh mất cái trâm cài đầu bằng cỏ thi, cho nên tôi khóc." - Đức Khổng Tử hỏi: Đi cắt cỏ thi, mà mất cái trâm bằng cỏ, thì việc gì mà phải khóc? - Người đàn bà nói: Không phải vì tôi đánh mất cái trâm cỏ thi mà tôi khóc; tôi sở dĩ khóc, là tôi thương tiếc một vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay không sao thấy được nữa.
English Translation:

Confucius was traveling across the countryside when he saw a woman weeping sorrowfully by a marsh. Surprised, Confucius sent a disciple to inquire why she wept. The woman answered: 'Earlier, while harvesting reeds here, I lost my old reed hairpin. I searched everywhere but could not find it, which is why I am weeping.' Confucius asked: 'If it was merely a hairpin made of common reeds, why grieve so bitterly over it?' The woman replied: 'I do not weep because the reed pin was intrinsically valuable; I weep because it was a cherished possession used for so long, and now I can never behold it again.'

Lời Bàn Của Học Giả:

Cái gì đã là của mình, mình có bụng yêu, mà lỡ khi mất, thì về sau dù có được cái khác giống như thế, hay hơn thế, mình cũng không thể sao yêu cho bằng. Thường, lại chỉ vì thấy cái mới mà hồi nhớ đến cái cũ, sinh ra chạnh lòng, nên câu than thở, có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Tại sao vậy? Tại đối với mình, cái của mất không chỉ có giá của mà thôi, lại hình như còn có một phần tâm hồn mình hay tâm hồn người để lại cho mình ngụ ở trong nữa. Sự cảm động đầu tiên bao giờ cũng là sự cảm động hay nhất, bền nhất. Ôi! Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở mình. "Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi" (Ngựa Hồ hí gió bắc, chim Việt đậu cành nam). Con ngựa rợ Hồ thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên được nguồn gốc ư!

Philosophical Takeaway:

"When something belongs to us and holds our affection, even if we later acquire a replacement identical or superior, we can never love the new quite as much. What was lost contains not merely material value, but a fragment of our soul or the soul of someone dear who gave it to us. As ancient wisdom reminds us: 'The northern horse still whinnies facing the northern wind; the southern bird nests only on branches pointing south.' If animals never forget their origins, how could a human ever forsake their roots and cherishable memories?"

#Tri ân#Tình cảm#Khổng Tử#Gốc gác
《列子·说符》

Lúc Đi Trắng, Lúc Về Đen

DƯƠNG BỐ ĐÁNH CHÓ / BẠCH KHỨ HẮC QUYGoing Out in White, Returning in Black
杨布打狗 / 白去黑归(Yáng Bù dǎ gǒu / Bái qù hēi guī)

杨朱之弟曰布,衣素衣而出。天雨,解素衣,衣缁衣而反。其狗不知,迎而吠之。杨布怒,将扑之。杨朱曰:“子毋扑矣,子亦犹是也。向者使汝狗白而往,黑而来,岂能毋怪哉?”

Âm Hán Việt:

Dương Chu chi đệ viết Bố, y tố y nhi xuất. Thiên vũ, giải tố y, y tư y nhi phản. Kỳ cẩu bất tri, nghênh nhi phệ chi. Dương Bố nộ, tương phác chi. Dương Chu viết: "Tử vô phác hĩ, tử diệc do thị dã. Hướng giả sử nhữ cẩu bạch nhi vãng, hắc nhi lai, khởi năng vô quái tai?"

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà ra, thì mặc áo trắng, đi được nửa đường gặp trời mưa, quần áo ướt hết, mới vào ẩn mưa ở nhà bà con. Người ấy thấy Dương Bố ướt cả cho mượn cái áo thâm. Một lúc trời tạnh, Dương Bố mặc áo thâm về nhà. Con chó trông thấy, vừa cắn vừa xua đuổi. Dương Bố giận toan cầm gậy đánh. Anh là Dương Chu chạy ra bảo: 'Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng nhà ta, lúc đi thì trắng, lúc về thì đen, phỏng em có không lấy làm lạ mà không ngờ được không?'
English Translation:

One sunny day, Yang Zhu's younger brother, Yang Bu, went out wearing white clothes. Midway through his trip it poured with rain, soaking his clothes. He took refuge at a relative's house, who lent him a black coat. When the rain stopped, Yang Bu walked home in the dark coat. His dog, seeing him in unfamiliar attire, barked aggressively and lunged at him. Infuriated, Yang Bu raised a stick to beat it. Yang Zhu intervened, saying: 'Do not strike the dog! It is only natural for it to bark. Suppose our white dog went out white and returned jet-black; would you not be equally startled and suspicious?'

Lời Bàn Của Học Giả:

Lúc đi mặc áo trắng, lúc về mặc áo thâm, chính mình không biết mình thay đổi, con chó thấy khác thì xua đuổi. Mình đánh nó chẳng hóa ra lầm lắm ru! Lỗi tại mình thay đổi không tại con chó cắn xằng. Vậy nên ở đời khi mình làm điều gì khác thường, mà người ta không rõ, thì tất nhiên người ta bàn trái bàn phải. Nếu mình không tự xét mình thay đổi hay dở, chỉ biết trách người nghị luận nọ kia, thì chẳng khác nào như Dương Bố đánh chó trong truyện này.

Philosophical Takeaway:

"We often alter our outward appearance or behavior without realizing it, yet expect others to treat us with unbroken familiarity. When people misunderstand or criticize unexpected changes in us, we must first examine ourselves rather than lashing out at their natural bewilderment."

#Tự xét mình#Thấu cảm#Liệt Tử#Xử thế
《吕氏春秋》

Lợi Mê Lòng Người

LỢI MÊ NHÂN TÂM / TỐNG NHÂN THẤT YGreed Blinds the Mind
利迷人心 / 宋人失衣(Lì mí rén xīn / Sòng rén shī yī)

宋人有失缁衣者,搜诸道。见妇人之衣缁衣者,引而索之,曰:“此吾所失缁衣也。”妇人曰:“此吾手所自织也。”其人曰:“吾所失者厚,子所衣者薄,以子薄衣偿吾厚衣,尚何言哉!”

Âm Hán Việt:

Tống nhân hữu thất tư y giả, sưu chư đạo. Kiến phụ nhân chi y tư y giả, dẫn nhi sách chi, viết: "Thử ngô sở thất tư y dã." Phụ nhân viết: "Thử ngô thủ sở tự chức dã." Kỳ nhân viết: "Ngô sở thất giả hậu, tử sở y giả bạc, dĩ tử bạc y thường ngô hậu y, thượng hà ngôn tai!"

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường tìm. Thấy người đàn bà mặc áo thâm, níu lại đòi rằng: 'Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền trả tôi cái nầy'. Rồi cứ giữ chặt cái áo không buông ra nữa. Người đàn bà cãi: 'Ông mất áo thâm, tôi biết đấy là đâu? Áo tôi mặc đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra'. Anh kia nói: 'Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất dầy, cái áo thâm chị mặc mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền cho áo thâm dầy cho tôi, còn phải nói gì lôi thôi nữa!'
English Translation:

A man from the state of Song lost his black coat. He searched along the highway, spotted a woman wearing a black coat, grabbed her hem, and demanded: 'I just lost my black coat; you must surrender this one to me!' The woman protested: 'Where you lost your coat is none of my business! The coat I am wearing was woven and tailored by my own hands.' The man insisted obstinately: 'You must compensate me! The coat I lost was thick, whereas yours is thin. For me to take your thin coat in exchange for my lost thick one is already a compromise on my part; what right do you have to complain!'

Lời Bàn Của Học Giả:

Mất áo trong nhà mà ra đường tìm, đã là chuyện bật cười. Mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà lại là chuyện bật cười. Mất áo thâm dầy bắt đền áo thâm mỏng mà cho là phải, lại là chuyện bật cười nữa. Ôi cái lợi nó làm cho lòng người mê muội, chỉ biết có mình không biết có ai, chỉ vụ lợi cho mình mà quên cả phải trái. Kẻ nào đã vụ lợi như thế, thì cái gì mà chẳng dám làm, cái gì mà chả dám nói! Than ôi! Cái đời kim tiền bây giờ biết bao nhiêu phường đòi áo như người nói trong chuyện này.

Philosophical Takeaway:

"Losing a coat at home yet searching on the highway is absurd; demanding a woman's garment for a man's coat is more ridiculous; claiming a thin garment as compensation for a thick one crowns the folly. Greed blinds intellect and conscience alike, driving men to invent laughable justifications to snatch what is not theirs."

#Lòng tham#Phê phán#Ngụ ngôn#Lã Thị Xuân Thu
《列子·说符》

Lấy Của Ban Ngày

BẠCH TRÚ HOẠC KIM / TỀ NHÂN HOẠC KIMSeizing Gold in Broad Daylight
白昼攫金 / 齐人攫金(Bái zhòu jué jīn / Qí rén jué jīn)

昔齐人有欲金者,清旦被衣冠而往市,适鬻金者之所,因攫其金而去。吏捕得之,问曰:“人皆在焉,子何遂攫人之金?”对曰:“取金之时,不见人,徒见金。”

Âm Hán Việt:

Tích Tề nhân hữu dục kim giả, thanh đán bị y quan nhi vãng thị, thích chúc kim giả chi sở, nhân hoạc kỳ kim nhi khứ. Lại bộ đắc chi, vấn viết: "Nhân giai tại yên, tử hà toại hoạc nhân chi kim?" Đối viết: "Thủ kim chi thời, bất kiến nhân, đồ kiến kim."

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Nước Tấn có kẻ hiếu lợi một hôm ra chợ gặp cái gì cũng lấy. Anh ta nói rằng: 'Cái nầy tôi ăn được, cái nầy tôi mặc được, cái nầy tôi tiêu được, cái nầy tôi dùng được.' Lấy rồi đem đi. Người ta theo đòi tiền. Anh ta nói: 'Lửa tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt. Bao nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ tưởng của tôi cả, không còn trông thấy ai nữa. Thôi, các người cứ cho tôi, sau nầy tôi giàu có, tôi sẽ đem tiền trả lại'. Người coi chợ thấy càn dỡ, đánh cho mấy roi, bắt của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ. Anh ta mắng: 'Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta, thường dụng thiên phương, bách kế ngấm ngầm lấy của của người. Ta đây tuy thế, song lấy giữa ban ngày so với những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư? Các ngươi cười ta là các người chưa nghĩ kỹ!'
English Translation:

In the state of Qi, a man possessed by greed dressed up one morning and walked into the market. Strolling into a gold merchant's booth, he seized a fistful of gold and walked away. The guard apprehended him and shouted: 'Crowds were surrounding you; how dared you steal gold in broad daylight?' He replied calmly: 'When I grabbed the gold, I did not see any people; I only saw the gold.' In another variation, an insolent thief taken to task mocked the onlookers: 'Countless tyrants and fraudsters use deceit to rob whole nations in secret. I merely take in open daylight—am I not more honest than they?'

Lời Bàn Của Học Giả:

Đã là kẻ thấy của tối mắt, tham vàng bỏ nghĩa, thì dù ít, dù nhiều cũng là đáng khinh cả, song đem những kẻ mặt to, tai lớn, vì ham mê phú quý mà lường thầy, phản bạn, hại ngầm đồng bào so với những quân cắp đường, cắp chợ giữa ban ngày để nuôi miệng thì tội đến nặng hơn biết bao nhiêu. Thế mà trách đời chỉ biết chê cười những quân trộm cướp vặt chớ không biết trừng trị những kẻ đại gian đại ác.

Philosophical Takeaway:

"When avarice blazes, moral vision goes utterly dark. While petty street thieves are caught and ridiculed, societies often fail to condemn grand exploiters in high robes who strip whole communities through subtle deceit. True justice must perceive beyond crude petty theft to punish colossal corruption."

#Lòng tham#Cảnh tỉnh#Liệt Tử#Công lý
《墨子·贵义》

Khổ Thân Làm Việc Nghĩa

KHỔ THÂN HÀNH NGHĨA / MẶC TỬ QUÝ NGHĨAEnduring Hardship for Righteousness
苦身行义 / 墨子贵义(Kǔ shēn xíng yì / Mòzǐ guì yì)

子墨子自鲁适齐,过故人,谓子墨子曰:“今天下莫为义,子独自苦而为义,子不若止。”子墨子曰:“今有人于此,有子十人,一人耕而九人处,则耕者不可以不益急矣。何故?则食者众而耕者寡也。今天下莫为义,则子如劝我者也,何故止我?”

Âm Hán Việt:

Tử Mặc Tử tự Lỗ thích Tề, quá cố nhân, vị Tử Mặc Tử viết: "Kim thiên hạ mạc vi nghĩa, tử độc tự khổ nhi vi nghĩa, tử bất nhược chỉ." Tử Mặc Tử viết: "Kim hữu nhân ư thử, hữu tử thập nhân, nhất nhân canh nhi cửu nhân xứ, tắc canh giả bất khả dĩ bất ích cấp hĩ. Hà cố? Tắc thực giả chúng nhi canh giả quả dã. Kim thiên hạ mạc vi nghĩa, tắc tử như khuyến ngã giả dã, hà cố chỉ ngã?"

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề, qua nhà người bạn cũ, vào chơi. Người bạn nói chuyện với Mặc Tử rằng: 'Bây giờ thiên hạ ai còn thiết đến việc "nghĩa", một mình ông tự khổ thân để làm việc nghĩa, thì có thấm vào đâu! Chẳng thà thôi đi có hơn không?' - Mặc Tử nói: 'Bây giờ có người ở đây, nhà mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn không, thì đứa cày chẳng nên càng chăm cày hơn lên ư? Tại sao thế? Tại đứa ăn không nhiều, đứa đi cày ít. Bây giờ thiên hạ chẳng ai chịu làm việc nghĩa, thì ông phải biết khuyên tôi càng làm lắm mới phải, có đâu lại ngăn tôi như thế!'
English Translation:

Traveling from Lu to Qi, Mozi visited an old friend. The friend said: 'Nowadays nobody in the world cares for righteousness; you alone wear yourself out pursuing it. What difference can one man make? Would it not be better to desist?' Mozi answered: 'Suppose a father has ten sons: nine idle about while only one plows the fields. Should not the lone farmer work even harder? Because there are many mouths to eat and few hands to produce! When few people in the world practice righteousness, you ought to urge me on rather than dissuade me!'

Lời Bàn Của Học Giả:

Trong khi nhân tâm thế đạo suy đồi, mình là người còn đứng vững được, thì sao lại chịu suy đồi với thiên hạ cho cùng trôi một loạt. Vì nếu ai cũng như thế cả, thì còn đâu là người cảnh tỉnh được kẻ u mê để duy trì lấy nhân tâm thế đạo nữa? Cho nên những người thức thời, có chí, dù ở vào cái đời biến loạn đến đâu, cũng không chịu đắm đuối vào cái bất nghĩa, khác nào như: cây tòng, cây bách mùa đông sương tuyết mà vẫn xanh, như con gà trống mưa gió tối tăm mà vẫn gáy. Những bậc ấy chẳng những thế mà thôi, lại còn đem bao nhiêu tinh lực tâm trí ra, cố gắng giữ lấy phong hóa mà dìu dắt, mà đưa đường cho những kẻ u mê đắm đuối.

Philosophical Takeaway:

"When public morals decay, the noble-minded must not surrender to the prevailing tide. Like towering cypresses that stay green amidst winter frost, or the rooster that crows faithfully despite torrential gloom, courageous pioneers keep the lamp of justice burning for all humanity."

#Lý tưởng#Nghĩa khí#Mặc Tử#Kiên định
《孔子家语》

Cách Cư Xử Ở Đời

NHAN UYÊN VẤN KHỔNG TỬ / CƯƠNG NHU TIẾN THOÁIThe Art of Living with Wisdom
颜渊问孔子 / 刚柔进退(Yán Yuān wèn Kǒngzǐ / Gāng róu jìn tuì)

颜渊问于孔子曰:“渊愿贫如富,贱如贵,无勇而威,与人玩好而终身无患,可乎?”孔子曰:“大哉此问!贫而如富,知足而无欲也;贱而如贵,自得而敬人也;无勇而威,恭顺而无失也;与人玩好而终身无患,慎言而择友也。若此,何不可之有?”

Âm Hán Việt:

Nhan Uyên vấn ư Khổng Tử viết: "Uyên nguyện bần như phú, tiện như quý, vô dũng nhi uy, dữ nhân ngoạn hảo nhi chung thân vô hoạn, khả hồ?" Khổng Tử viết: "Đại tai thử vấn! Bần nhi như phú, tri túc nhi vô dục dã; tiện nhi như quý, tự đắc nhi kính nhân dã; vô dũng nhi uy, cung thuận nhi vô thất dã; dữ nhân ngoạn hảo nhi chung thân vô hoạn, thận ngôn nhi trạch hữu dã. Nhược thử, hà bất khả chi hữu?"

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Thầy Nhan Uyên hỏi Đức Khổng Tử: 'Hồi nầy muốn nghèo mà cũng được như giàu, hèn mà cũng được như sang, không phải khỏe mà có oai, chơi bời với người ta suốt đời không lo sợ gì, muốn như vậy, có nên không?' Đức Khổng Tử nói: 'Ngươi hỏi thế phải lắm. Nghèo mà muốn cũng như giàu, thế là biết bằng lòng số phận không ham mê gì. Hèn mà cũng muốn như sang, thế là biết nhún nhường và có lễ độ. Không khỏe mà muốn có oai, thế là biết thận trọng, cung kính không lầm lỗi gì. Chơi bời với mọi người mà muốn suốt đời không lo sợ, thế là biết chọn lời rồi mới nói.'
English Translation:

Yan Yuan asked Confucius: 'I wish to remain poor yet feel as rich, be humble in rank yet feel noble, possess no fierce force yet command natural reverence, and socialize with men all my life without peril. Is such an aspiration feasible?' Confucius exclaimed: 'Magnificent is your question! To be poor yet feel rich comes from contentment without boundless cravings. To be humble yet feel noble comes from self-dignity and respectful courtesy. To lack raw might yet command reverence comes from prudent humility without negligence. To live amidst companions without hazard comes from weighing every word before speaking.'

Lời Bàn Của Học Giả:

Không cần công danh phú quý thế là biết giữ thiên tước hơn là nhân tước; không để ai khinh lờn được thế là biết trọng phẩm giá mình; không muốn đeo cái lo vào mình thế là biết giữ thân không phiền lụy đến ai. Ở đời mà giữ trọn vẹn được mấy điều như thế, tưởng thật là một cách vui thú rất cao thượng vậy.

Philosophical Takeaway:

"True nobility lies within self-cultivation rather than conferred worldly ranks. When one cherishes internal character, acts with unwavering respect, and speaks with measured discretion, life is shielded from needless hostility, attaining pure peace and lofty joy."

#Tu thân#Xử thế#Khổng Tử#Nhan Uyên
《荀子·修身》

Tu Thân

TUÂN TỬ TU THÂN / TRỊ KHÍ DƯỠNG TÂMSelf-Cultivation and Nobility of Character
荀子修身 / 治气养心(Xúnzǐ xiū shēn / Zhì qì yǎng xīn)

见善,修然必以自存也;见不善,愀然必以自省也。善在身,介然必以自好也;不善在身,菑然必以自恶也。故非我而当者,吾师也;是我而当者,吾友也;谄谀我者,吾贼也。故君子隆师而亲友,以致恶其贼。

Âm Hán Việt:

Kiến thiện, tu nhiên tất dĩ tự tồn dã; kiến bất thiện, tiễu nhiên tất dĩ tự tỉnh dã. Thiện tại thân, giới nhiên tất dĩ tự hảo dã; bất thiện tại thân, tai nhiên tất dĩ tự ố dã. Cố phi ngã nhi đương giả, ngô sư dã; thị ngã nhi đương giả, ngô hữu dã; siểm du ngã giả, ngô tặc dã. Cố quân tử long sư nhi thân hữu, dĩ chí ố kỳ tặc.

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Thấy người hay, thì phải cố mà bắt chước; thấy người dở thì phải tự xét xem có dở như thế không để mà sửa đổi. Chính mình có điều hay, thì phải cố mà giữ lấy; chính mình có điều dở, thì phải cố mà trừ đi. Người chê ta mà chê phải, tức là thầy ta; người khen ta mà khen phải, tức là bạn ta; còn người nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy. Cho nên người quân tử trọng thầy, quý bạn và rất ghét cừu địch, thích điều phải mà không chán, nghe lời can mà biết răn... như thế dù muốn không hay cũng không được. Kẻ tiểu nhân thì không thế. Cực bậy mà lại ghét người chê mình; rất dở mà lại thích người khen mình; bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú mà thấy người ta không phục lại không bằng lòng; thân với kẻ siểm nịnh, xa cách kẻ can ngăn, thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì chê... Như thế thì dù muốn không dở cũng không được.
English Translation:

When witnessing virtue in others, strive earnestly to emulate it; when seeing fault, examine yourself vigilantly to weed out similar defects. When you possess virtue, guard it tenaciously; when you detect wrongdoing in yourself, discard it without pity. Whoever criticizes my genuine faults with justice is my honored teacher; whoever commends my rightful deeds truthfully is my trusted friend; whoever flatters me deceitfully is a thief bent on my ruin. The noble person reveres good teachers, embraces honest friends, and shuns flatterers. Petty persons do the opposite: they detest correction, crave sycophancy, act deceitfully yet demand admiration, and mock the righteous.

Lời Bàn Của Học Giả:

Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà muốn tới cái mục đích ấy, thì không những là tự mình phải xét mình lại còn phải xét cái cách người ở với mình nữa. Đối với người, cần phải biết hai điều: Ai khen chê phải, khuyên răn hay thì phục, thì bắt chước; ai chiều lòng nịnh hót thì tránh cho xa, coi như quân cừu địch. 'Nên ưa người ta khuyên mình hơn người ta khen mình' - có như thế, thì mới tu thân được.

Philosophical Takeaway:

"Self-cultivation boils down to embracing virtue and discarding vice. This demands rigorous self-examination as well as discernful perception of companions. One should treasure constructive criticism far above sweet adulation."

#Tu thân#Quân tử#Tuân Tử#Đạo đức
《韩非子·五蠹》

Ôm Cây Đợi Thỏ

THỦ CHU ĐÃI THỐWaiting by the Stump for a Hare
守株待兔(Shǒu zhū dài tù)

宋人有耕田者。田中有株,兔走触株,折颈而死。因释其耒而守株,冀复得兔。兔不可复得,而身为宋国笑。今欲以先王之政,治当世之民,皆守株之类也。

Âm Hán Việt:

Tống nhân hữu canh điền giả. Điền trung hữu chu, thố tẩu xúc chu, chiết cảnh nhi tử. Nhân thích kỳ lỗi nhi thủ chu, ký phục đắc thố. Thố bất khả phục đắc, nhi thân vi Tống quốc tiếu. Kim dục dĩ tiên vương chi chính, trị đương thế chi dân, giai thủ chu chi loại dã.

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Một người nước Tống đang cày ruộng. Giữa ruộng có một cây to. Có con thỏ đồng ở đâu chạy lại, đâm vào gốc cây, đập đầu gãy cổ chết. Người cày ruộng thấy thế, bỏ cày, vội chạy đi nhặt thỏ. Đoạn, cứ ngồi khư khư ôm gốc cây, mong lại được thỏ nữa. Nhưng đợi mãi chẳng thấy thỏ đâu, lại mất một buổi cày. Thiên hạ thấy vậy, ai cũng chê cười.
English Translation:

A farmer in Song was tilling his field. In the midst of the plot stood a tree stump. Suddenly a speeding hare dashed by, slammed violently into the stump, broke its neck, and died on the spot. Seeing this easy prize, the farmer cast aside his plow and spent every day guarding the stump, hoping another hare would run into it. Naturally, no more hares crashed, while his untended crops withered, rendering him the laughingstock of the entire state. Han Feizi commented: 'Those who try to rule present times by clinging stubbornly to ancient rigid policies without adapting are doing nothing different from this farmer.'

Lời Bàn Của Học Giả:

Thấy mùi, quen mui làm mãi. Ở đời những kẻ ngẫu nhiên gặp may, mà ước ao được gặp may luôn như thế nữa, không biết sự may là tình cờ mới có, thì có khác gì người nước Tống ôm cây đợi thỏ nầy. Anh ôm cây đợi thỏ này lại còn là người cố chấp bất thông, không hiểu thời thế, không thấu tình cảnh, khư khư đười ươi giữ ống, cũng một phường với những hạng chơi đàn gắn chặt phím, khắc mạn thuyền để nhớ chỗ gươm rơi.

Philosophical Takeaway:

"Blind chance is not a sustainable livelihood. Those who abandon diligent labor to pin their hopes on accidental windfalls end up bankrupt in both fortune and reputation. Wisdom requires dynamic adaptation rather than dogmatic stagnation."

#Thành ngữ#Ngụ ngôn#Hàn Phi Tử#Thực tế
《吕氏春秋·察今》

Đánh Dấu Thuyền Tìm Gươm

KHẮC CHU CẦU KIẾMNotching the Boat to Find the Sword
刻舟求剑(Kè zhōu qiú jiàn)

楚人有涉江者,其剑自舟中坠于水,遽契其舟,曰:“是吾剑之所从坠。”舟止,从其所契者入水求之。舟已行矣,而剑不行,求剑若此,不亦惑乎?

Âm Hán Việt:

Sở nhân hữu thiệp giang giả, kỳ kiếm tự chu trung trụy ư thủy, cự khế kỳ chu, viết: "Thị ngô kiếm chi sở tòng trụy." Chu chỉ, tòng kỳ sở khế giả nhập thủy cầu chi. Chu dĩ hành hĩ, nhi kiếm bất hành, cầu kiếm nhược thử, bất diệc hoặc hồ?

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Có người nước Sở đi đò qua sông. Khi ngồi đò, vô ý đánh rơi thanh gươm xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu vào mạn thuyền, nói rằng: 'Gươm ta rơi ở chỗ nầy đây'. Lúc thuyền đỗ vào bến, anh ta cứ theo chỗ đánh dấu, lặn xuống nước tìm gươm. Thuyền đã đi đến bến, chớ gươm rơi đâu thì vẫn ở đấy, có theo thuyền mà đi đâu? Tìm gươm như thế, chẳng khờ dại lắm ư!
English Translation:

A traveler from the state of Chu was crossing a wide river in a ferry. Inattentive, he dropped his precious sword overboard into the depths. Hurriedly, he took a knife and carved a notch on the gunwale of the boat, saying: 'This is where my sword fell.' When the boat docked at the distant shore, he dived into the water beneath the notch to look for his sword. The boat had long traveled miles downriver while the sword remained stationary on the riverbed. Is not seeking a sword in this manner the epitome of foolishness?

Lời Bàn Của Học Giả:

Thanh gươm rơi xuống sông, thì ở ngay chỗ rơi. Nếu muốn tìm thấy gươm, tất phải lặn ngay xuống chỗ rơi mà tìm. Chớ sao lại đánh dấu vào thuyền, đợi đến lúc thuyền đỗ vào bến, mới lặn xuống bến tìm? Người tìm gươm nầy có khác nào như người đánh đàn sắt đem gắn cả ngựa lại, tưởng ngựa không di dịch được là các âm vận tự nhiên điều hòa được đúng! Than ôi! người cố chấp bất thông, chỉ câu nệ biết giữ chặt một cái đã nắm chặt trong tay, chớ không hiểu nghĩa chữ 'thời' là gì?

Philosophical Takeaway:

"Circumstances change continuously like flowing currents. Applying rigid, outdated methods to an altered reality is as absurd as notching a moving ferry. Wisdom demands recognizing the dynamics of time and adapting our actions accordingly."

#Thành ngữ#Lã Thị Xuân Thu#Thời thế#Trí tuệ
《庄子》 / 《韩非子》

Ba Con Rận Kiện Nhau

TAM SẤT TƯƠNG TỤNGThree Lice Suing Each Other
三虱相讼(Sān shī xiāng sòng)

三虱相与讼。一虱过之,曰:“讼者奚说?”三虱曰:“争肥铙之地。”一虱曰:“若亦不患腊之至而焦釜之烹乎?若何相争也?”三虱乃悟,共聚而食,彘瘦而不杀,三虱得以全生。

Âm Hán Việt:

Tam sắt tương dữ tụng. Nhất sắt quá chi, viết: "Tụng giả hề thuyết?" Tam sắt viết: "Tranh phì nhiêu chi địa." Nhất sắt viết: "Nhược diệc bất hoạn lạp chi chí nhi tiêu phủ chi phanh hồ? Nhược hà tương tranh dã?" Tam sắt nãi ngộ, cộng tụ nhi thực, trĩ sấu nhi bất sát, tam sắt đắc dĩ toàn sinh.

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Ba con rận hút máu một con lợn, tranh nhau ăn, đem nhau đi kiện. Một con rận khác gặp, hỏi: 'Ba anh kiện nhau về việc gì thế?' - Ba con rận đáp: 'Chúng tôi kiện nhau, vì tranh nhau một chỗ đất mầu mỡ.' - Con rận kia nói: 'Tôi tưởng các anh chẳng nên tranh lẫn nhau thế làm gì. Các anh chỉ nên lo đến con dao của người đồ tể giết lợn, ngọn lửa của bó rơm thui lợn mà thôi.' Ba con rận nghe ra, biết là dại, thôi không đi kiện nữa, cùng nhau quần tụ làm ăn với nhau, dù no dù đói cũng không bỏ nhau. Con lợn thành mỗi ngày một gầy, người ta không làm thịt cứ để nuôi, ba con rận nhờ thế mà no đủ mãi.
English Translation:

Three lice living on a pig bickered incessantly and took each other to court over who should occupy the fattest spot on the hog. Another louse passed by and asked: 'What are you disputing?' The three replied: 'We are contending over the rich and juicy territory on this host.' The passerby retorted: 'Why quarrel over trivial turf? You should rather fear the year-end sacrifice when the butcher sharpens his cleaver and bundles straw to roast the pig over flames!' The three lice awoke to the peril, ceased feuding, and fed moderately together. Consequently the pig stayed lean, was spared from slaughter, and the lice survived safely for years.

Lời Bàn Của Học Giả:

Nhân dân một xứ mà cứ tranh giành lẫn nhau cái lợi trước mắt, không nghĩ gì đến cái việc lâu dài cho cả toàn thể, thì trí khôn thật không bằng mấy con rận nói trong truyện nầy. Tranh nhau, cãi nhau, đánh nhau, kiện nhau, thì oan oan tương kết, lợi chẳng thấy đâu chỉ thấy hại, hại cho một mình lại hại cho cả đàn, cả lũ nữa. Sao không biết: Sâu đục cây, cây đổ thì sâu cũng chẳng còn; trùng hại vật, vật chết thì trùng cũng hết kiếp!

Philosophical Takeaway:

"Internal strife over short-sighted petty gains blinds factions to existential perils. When citizens or colleagues tear each other apart, they ruin the very foundation that shelters them all. When the tree falls, the insects perish with it."

#Đoàn kết#Tầm nhìn#Trang Tử#Ngụ ngôn
《新唐书》 / 《后汉书》

Đạo Vợ Chồng

PHU PHỤ CHI ĐẠO / PHÒNG HUYỀN LINH THÊ LƯ THỊThe Sacred Vow of Husband and Wife
夫妇之道 / 房玄龄妻卢氏(Fū fù zhī dào / Fáng Xuánlíng qī Lú shì)

房玄龄微时,尝病甚,将死,谓妻卢氏曰:“吾病革,卿年少,不可枉居,善事他人。”卢泣入帷中,剜一目以示玄龄,示无他意。玄龄疾愈,礼敬特甚。后玄龄为相,太宗赐美人,卢氏宁饮鸩不纳,帝叹曰:“我尚畏之,况玄龄乎!”

Âm Hán Việt:

Phòng Huyền Linh vi thời, thường bệnh thậm, tương tử, vị thê Lư thị viết: "Ngô bệnh cách, khanh niên thiếu, bất khả uổng cư, thiện sự tha nhân." Lư khấp nhập duy trung, oản nhất mục dĩ thị Huyền Linh, thị vô tha ý. Huyền Linh tật dũ, lễ kính đặc thậm. Hậu Huyền Linh vi tướng, Thái Tông tứ mỹ nhân, Lư thị ninh ẩm trẫm bất nạp, đế thán viết: "Ngã thượng úy chi, huống Huyền Linh hồ!"

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Lư phu nhân, vợ ông Phòng Huyền Linh, là người tuyệt đẹp và đoan trang. Lúc ông Huyền Linh chưa hiển đạt, mắc bệnh nặng thập tử nhất sinh, bèn bảo vợ rằng: 'Bệnh tôi khó qua khỏi. Nàng tuổi còn son trẻ, không nên ở vậy mà uổng phí tuổi xuân, hãy liệu bề tái giá'. Lư phu nhân nghe nói, khóc lóc đi vào buồng, tự khoét một con mắt đem ra đưa cho chồng xem để tỏ ý chí son sắt trọn đời không lấy ai khác. Sau Phòng Huyền Linh khỏi bệnh, làm quan đến Tể tướng dưới triều Đường Thái Tông, đối với vợ muôn phần kính trọng, một dạ thủy chung son sắt cho đến trọn đời.
English Translation:

When Fang Xuanling was young and obscure, he fell gravely ill near death. Taking his young, beautiful wife Lady Lu by the hand, he whispered: 'My life ebbs away. You are in your prime; do not squander your youth in widowhood. Promise me you will remarry a worthy man.' Weeping bitterly, Lady Lu stepped behind the curtain, gouged out one of her eyes, and presented it to her husband to demonstrate her irrevocable fidelity. Fang Xuanling miraculously recovered and eventually rose to become Prime Minister under Emperor Taizong. Throughout his glorious life, he revered his scarred wife with unbroken devotion, taking no concubines.

Lời Bàn Của Học Giả:

Tưởng mình sắp chết, thấy vợ trẻ trung không muốn để cho ở vậy, thế là quá yêu thương vợ, thể tất cho vợ lắm. Sợ chồng tiếc đẹp, chết đi không dứt, mà khoét mắt để tỏ ra thành tật cho yên lòng chồng, thế là chí tình và nhất tâm với chồng lắm. May khỏi bệnh, sau lại làm đến Tể tướng, ông chỉ biết có một bà vợ tật nguyền thuở hàn vi mà thôi, kính yêu quý trọng trọn tình trọn nghĩa. Đạo vợ chồng gắn bó thủy chung như thế thật đáng lưu danh thiên cổ, khiến đời sau soi vào mà cảm phục.

Philosophical Takeaway:

"True conjugal love requires sublime sacrifice and mutual reverence. The husband selflessly thought of his wife's future, while the wife pledged loyalty beyond external beauty. Their lifelong devotion stands as an eternal testament to noble matrimonial virtue."

#Tình nghĩa#Thủy chung#Đường Triều#Gia đình
《吕氏春秋》

Mong Làm Điều Phải

MỘ LIỄU HẠ HUỆ / HỌC LIỄU HẠ HUỆ CHI VI NHÂNStriving to Do What Is Right
慕柳下惠 / 学柳下惠之为人(Mù Liǔ Xià Huì / Xué Liǔ Xià Huì zhī wéirén)

鲁人身善,独处室。邻之嫠妇亦独处室。夜暴风雨,嫠妇室坏,趋而托焉。鲁人闭门而不纳。妇人曰:“子何不纳我乎?”鲁人曰:“吾闻男女不六十不同居。今子幼,吾亦幼,是以不敢纳尔也。”妇人曰:“子何不如柳下惠然,妪不逮门之女,国人不称其乱?”鲁人曰:“柳下惠则可,吾固不可。吾以吾之不可,学柳下惠之可,未为不可也。”孔子闻之曰:“善哉!学柳下惠者,莫若此子矣。”

Âm Hán Việt:

Lỗ nhân thân thiện, độc xứ thất. Lân chi li phụ diệc độc xứ thất. Dạ bạo phong vũ, li phụ thất hoại, xu nhi thác yên. Lỗ nhân bế môn nhi bất nạp. Phụ nhân viết: "Tử hà bất nạp ngã hồ?" Lỗ nhân viết: "Ngô văn nam nữ bất lục thập bất đồng cư. Kim tử ấu, ngô diệc ấu, thị dĩ bất cảm nạp nhĩ dã." Phụ nhân viết: "Tử hà bất như Liễu Hạ Huệ nhiên, ẩu bất đãi môn chi nữ, quốc nhân bất xưng kỳ loạn?" Lỗ nhân viết: "Liễu Hạ Huệ tắc khả, ngô cố bất khả. Ngô dĩ ngô chi bất khả, học Liễu Hạ Huệ chi khả, vị vi bất khả dã." Khổng Tử văn chi viết: "Thiện tai! Học Liễu Hạ Huệ giả, mạc nhược thử tử hĩ."

Bản Dịch Truyện (Ôn Như & Từ An):
Nước Lỗ có người ở một mình một nhà. Bên láng giềng có người đàn bà góa cũng ở một mình. Một đêm mưa to gió lớn làm đổ sập nhà người đàn bà, bà ta chạy sang xin ngủ nhờ. Người đàn ông đóng chặt cửa không cho vào. Người đàn bà đứng ngoài vách than thở: 'Sao chàng lại tuyệt tình không mở cửa? Sao không bắt chước đức Liễu Hạ Huệ ngày xưa, ôm ấp cô gái rét mướt qua đêm nơi cổng thành mà không vướng bụi trần tà niệm?' Người đàn ông đáp: 'Liễu Hạ Huệ đạo hạnh cao vời thì làm được, còn tôi sức tu chưa tới ắt không thể làm được. Tôi lấy cái không thể của tôi mà giữ gìn phẩm hạnh, chính là đang học theo cái tâm trong sạch của Liễu Hạ Huệ vậy!' Đức Khổng Tử nghe chuyện tấm tắc khen: 'Học theo Liễu Hạ Huệ mà thấu suốt và sáng suốt như thế, thật chưa ai bằng người này!'
English Translation:

In Lu, a virtuous bachelor lived alone. Next door lived a solitary widow. One stormy night, howling winds collapsed the woman's hut. She fled to the neighbor's house knocking for shelter, but the man barred his door. The widow pleaded: 'Why will you not let me in? Why do you not emulate Liu Xiahui, who held a freezing girl through the night at the city gate yet remained utterly pure without the slightest impropriety?' The man replied: 'Liu Xiahui possessed saintly self-control; I do not. Using my firm boundary to prevent moral failure is my true way of honoring Liu Xiahui's purity!' Hearing of this, Confucius praised him: 'Splendid! Among all who seek to emulate Liu Xiahui, none understands the essence of virtue better than this man.'

Lời Bàn Của Học Giả:

Mong làm điều rất phải không bắt chước hình thức cách làm, mà giữ được cái gốc của sự phải, thế mới thật là khôn! Liễu Hạ Huệ mở lòng cứu người mà tâm bất động là bậc thánh nhân. Người trai nước Lỗ biết tự lượng sức mình, biết giữ gìn giới hạn để không sa ngã, tuy đóng cửa mà thực tế là bảo toàn danh tiết và lòng trong sạch cho cả hai. Biết mình là ai để giữ thân chính trực chính là đỉnh cao của sự khôn ngoan.

Philosophical Takeaway:

"To imitate virtue requires understanding inner essence rather than outward heroics. Knowing one's moral limits and establishing firm boundaries protects oneself and others from irreversible peril."

#Liêm chính#Khổng Tử#Tự biết mình#Lã Thị Xuân Thu